Tại sao K-Pop lại trở thành một ngành công nghiệp thần tượng?
Tại sao K-Pop lại trở thành một ngành công nghiệp thần tượng? Chuyện gì đã xảy ra với sự đa dạng của âm nhạc Hàn Quốc?
Khi nào K-Pop bắt đầu trở thành một ngành công nghiệp xoay quanh các nhóm thần tượng?
Tại sao ngày càng khó tìm thấy các ca sĩ solo trong nền âm nhạc Hàn Quốc, và tại sao các ban nhạc dường như nhận được ít sự chú ý từ công chúng hơn?
Từ khi nào mà một ca sĩ gần như mặc nhiên phải biết nhảy giỏi, đồng thời phải có ngoại hình giống diễn viên hoặc người mẫu?
Theo tôi, có năm nguyên nhân chính.
- Thị trường nội địa tương đối nhỏ
- Mô hình kinh doanh lấy thần tượng làm trung tâm
- Ảnh hưởng của văn hóa hát nhép và trình diễn
- Hệ thống thực tập sinh của Hàn Quốc
- Việc các ca sĩ không có công ty quản lý rất khó duy trì cuộc sống bằng nghề
Phần lớn những người Hàn Quốc ở độ tuổi 40 vẫn nhớ thời kỳ K-Pop chưa tập trung vào ngành công nghiệp thần tượng như ngày nay.
Bởi họ chính là thế hệ đã chứng kiến quá trình thay đổi đó.
Nếu nhìn lại âm nhạc Hàn Quốc trong những năm 1990, ngành công nghiệp âm nhạc Hàn Quốc khi ấy khác hiện tại khá nhiều.
Âm nhạc Hàn Quốc những năm 1990 đa dạng hơn rất nhiều
Thỉnh thoảng khi xem YouTube, tôi lại được đề xuất những chương trình âm nhạc Hàn Quốc từ những năm 1990.
Là một người cũng từng vui vẻ tận hưởng thời kỳ đó, đôi khi tôi lại ngồi xem những video ấy lâu hơn mình tưởng.
Và mỗi lần như vậy, cuối cùng tôi lại đi đến cùng một kết luận.
Âm nhạc Hàn Quốc ngày trước đa dạng hơn hiện nay rất nhiều.
Có nhạc ballad, rock, trot, nhạc dance và hip-hop.
Trong một chương trình âm nhạc kéo dài một tiếng,
có thể có một ca sĩ trot mặc trang phục biểu diễn kiểu sân khấu quán bar,
một rocker đang hất tung mái tóc theo tiếng nhạc,
một ca sĩ dance biểu diễn breakdance đầy mạnh mẽ,
và một ca sĩ ballad hát một bài hát buồn cùng cạnh tranh vị trí số một.
Sự đa dạng không chỉ nằm ở thể loại âm nhạc.
Ca sĩ solo cũng rất phổ biến.
Có rất nhiều nhóm song ca và nhóm ba người.
Tất nhiên cũng có những nhóm đông thành viên hơn.
Có nhóm bốn người, năm người, sáu người, thậm chí còn nhiều hơn.
Nhưng không một nhóm nào trong số đó có thể được nói là đại diện cho toàn bộ ngành công nghiệp âm nhạc.
Cho dù một nhóm dance năm thành viên đứng đầu bảng xếp hạng,
thì ở vị trí số 10 có thể là một ca sĩ trot,
còn vị trí số 16 lại là một ban nhạc rock.
Toàn bộ nền âm nhạc khi ấy đơn giản là khác với hiện nay, khi các nhóm thần tượng lớn chiếm một phần rất đáng kể trong thị trường âm nhạc Hàn Quốc.
Nói thật,
đến giờ tôi vẫn không biết chính xác BTS có bao nhiêu thành viên.
Đó là mức độ tôi không quan tâm đến bản thân các ca sĩ.
BLACKPINK thì tôi biết có bốn người.
Bốn người thì tôi còn nhận ra được.
Tôi thực sự rất thích âm nhạc.
Tôi không học chuyên ngành âm nhạc và cũng chẳng biết hát,
nhưng nếu tôi thực sự thích một bài hát,
nó có thể nằm trong playlist của tôi suốt nhiều năm.
Theo thời gian, những bài hát đó đã tạo thành một bộ sưu tập gồm
rất nhiều bài hát Nhật Bản,
nhạc pop cũ,
nhạc chanson Pháp,
và thậm chí cả nhạc Thái Lan và Việt Nam,
không quan trọng chúng đến từ quốc gia nào.
Có lẽ đó cũng là lý do tôi viết bài này.
Có lẽ đơn giản là tôi nhớ K-Pop ngày trước.
Hay có lẽ không phải vậy.
Dù thế nào đi nữa, tôi bắt đầu tự hỏi:
Âm nhạc Hàn Quốc đã trở thành như ngày nay bằng cách nào?
Trước khi đi tiếp, hãy thử định nghĩa đơn giản xem nhóm thần tượng thực sự là gì.
Nhóm thần tượng là gì?
Nhóm thần tượng không đơn giản chỉ có nghĩa là một nhóm người cùng hát.
Nói chung, nhóm thần tượng là những nhóm có sức hút thương mại không chỉ đến từ âm nhạc mà còn từ ngoại hình, hình ảnh, sân khấu và màn trình diễn. Các thành viên cũng hoạt động trong nhiều lĩnh vực khác như truyền hình, quảng cáo, fan meeting và nhiều hoạt động khác để xây dựng fandom.
Nói cách khác, sản phẩm không chỉ là âm nhạc. Bản thân các thành viên, hình ảnh của họ, màn trình diễn và fandom đều được tiêu thụ cùng nhau.
Nhìn theo cách này, chúng ta có thể thấy ngành công nghiệp thần tượng K-Pop không đơn thuần chỉ là vấn đề về thể loại âm nhạc.
Vậy hãy cùng xem vì sao ngành công nghiệp âm nhạc Hàn Quốc lại phát triển theo hướng này.
Mỹ cũng từng có nhóm thần tượng. Vậy tại sao Hàn Quốc lại khác?
Việc tạo ra và bán những nhóm nhạc nam vừa tài năng vừa có sức hút chắc chắn không phải là thứ được phát minh ra ở Hàn Quốc.
Nói một cách hơi thô,
phải đủ dư dả để sống thì một mô hình như vậy mới có thể phát triển.
Có lẽ là Mỹ.
Đó vốn đã là một trong những quốc gia giàu có nhất thế giới từ rất lâu.
Tất nhiên, đây chỉ là suy nghĩ cá nhân của tôi.
New Kids on the Block, NSYNC và Backstreet Boys có lẽ là những ví dụ tiêu biểu.
Những nhóm này có khá nhiều điểm tương đồng với các thần tượng K-Pop ngày nay.
Ngoại hình và hình ảnh của thành viên rất quan trọng.
Họ nhảy và biểu diễn.
Ngoài âm nhạc, họ còn hoạt động thông qua truyền hình, quảng cáo và fandom.
Nhưng có một điểm khác biệt quan trọng.
Ngay cả sau khi những nhóm này đạt được thành công khổng lồ,
ngành công nghiệp nhạc pop Mỹ vẫn không trở nên bị thống trị bởi một mô hình duy nhất.
Rock tiếp tục phát triển.
Metal vẫn tồn tại.
Hip-hop thậm chí còn trở nên mạnh mẽ hơn.
Và nhạc country vẫn giữ được vị trí là một thể loại phổ biến trong dòng nhạc đại chúng.
Nước Anh thì càng rõ ràng hơn.
Các nhóm thần tượng tồn tại và chắc chắn đạt được thành công,
nhưng toàn bộ ngành công nghiệp không nghiêng hẳn về một hướng như vậy.
Vậy tại sao Hàn Quốc lại trở thành một thị trường mà các nhóm thần tượng chiếm vị trí áp đảo trong toàn bộ ngành công nghiệp âm nhạc?
1. Thị trường nội địa nhỏ của Hàn Quốc có lợi cho mô hình thần tượng
Điều này có thể nghe giống như một lời biện minh,
nhưng tôi cho rằng thị trường nội địa tương đối nhỏ của Hàn Quốc là một yếu tố quan trọng trong sự phát triển của ngành công nghiệp thần tượng Hàn Quốc.
Hàn Quốc không phải Mỹ, nơi có hàng trăm triệu người tiêu dùng.
Cũng không phải Nhật Bản, quốc gia sở hữu một trong những thị trường giải trí nội địa mạnh nhất thế giới.
Doanh nghiệp đương nhiên sẽ tập trung vào mô hình kinh doanh nào có lợi nhuận cao nhất.
Điều đó không có gì sai.
Đó là lý do các công ty tồn tại.
Các nhóm thần tượng có thể bán được nhiều thứ hơn âm nhạc.
Họ có thể bán hàng hóa.
Có thể ký hợp đồng quảng cáo cho đủ loại sản phẩm.
Có thể xuất hiện trên truyền hình.
Có thể bán vé fan meeting và concert.
Và họ có thể chiếm một phần rất lớn trong thị trường Hàn Quốc tương đối nhỏ đó.
Đến một thời điểm nào đó,
có lẽ bản thân âm nhạc không còn là sản phẩm chính,
mà trở thành phương tiện để bán những sản phẩm khác.
Và xét trên phương diện kinh doanh,
sở hữu năm nhân vật có giá trị thương mại
có thể còn đáng giá hơn việc sở hữu một ca sĩ duy nhất.
2. K-Pop vẫn còn là ngành công nghiệp âm nhạc, hay đã trở thành ngành công nghiệp fandom?
Các ca sĩ hiện đại không chỉ kiếm tiền từ việc bán album.
Album, photocard, hàng hóa, fan-sign, concert, quảng cáo, hợp tác thương hiệu và vô số yếu tố khác đều trở thành một phần của hoạt động kinh doanh.
Trong hệ thống này,
quy mô fandom đôi khi có thể trở nên quan trọng hơn bản thân âm nhạc.
Tất nhiên,
làm ra một bài hát hay vẫn rất quan trọng.
Nhưng cuối cùng, nếu muốn thành công,
bạn cần có những người hâm mộ mình.
Và những người hâm mộ đó giờ đây đã quen với các ca sĩ thần tượng.
Cuối cùng,
bạn đặt cây đàn xuống
và đi đến phòng khám da liễu để chăm sóc ngoại hình.
Vì vậy, đôi khi tôi tự hỏi:
K-Pop giờ đây còn là ngành công nghiệp âm nhạc
hay đã trở thành ngành công nghiệp fandom?
3. Thời kỳ hát nhép đã góp phần hình thành hệ thống thần tượng
Trước tiên, tôi muốn nói rõ một điều:
rất nhiều thần tượng ngày nay có khả năng hát live rất tốt.
Những nỗ lực và sự chăm chỉ của họ chắc chắn xứng đáng được công nhận.
Nhưng những ngày đầu của ngành công nghiệp thần tượng lại khác.
Khi đó, các công ty giải trí thường ưu tiên ngoại hình hơn khả năng thanh nhạc.
Những nốt cao có thể đơn giản được giao cho thành viên có giọng hát tốt nhất trong nhóm.
Những thành viên còn lại có thể tập trung vào việc nhảy,
lộn về phía trước,
lộn về phía sau,
và biểu diễn.
Vào thời điểm đó, hát nhép thường được cho phép trên các chương trình âm nhạc.
Bây giờ vẫn còn như vậy sao?
Dù sao đi nữa,
kết quả là màn trình diễn trên sân khấu bắt đầu trở nên quan trọng hơn khả năng ca hát.
Vừa thực hiện vũ đạo khó vừa hát hoàn hảo rõ ràng là việc cực kỳ khó, vì vậy muốn làm được cả hai phải luyện tập vô cùng nhiều.
Nhưng nếu ca sĩ chỉ cần mấp máy môi,
các thần tượng có thể thực hiện những vũ đạo ngày càng mạnh và phức tạp hơn.
Và vì các đài truyền hình cần giữ chân người xem,
họ đương nhiên thích những sân khấu bắt mắt và hoành tráng.
Ca sĩ dần trở thành một thứ gì đó nhiều hơn một ca sĩ.
Họ xuất hiện trên các chương trình giải trí để làm khán giả cười,
và cũng phải duy trì hình ảnh được yêu thích bên ngoài âm nhạc.
Việc họ trông hấp dẫn như thế nào trên màn hình truyền hình
ngày càng trở nên quan trọng.
4. Hệ thống thực tập sinh của Hàn Quốc đã trở thành một nhà máy sản xuất thần tượng
Tôi không biết tình hình ở các quốc gia khác như thế nào.
Nhưng hệ thống thực tập sinh của Hàn Quốc khá khắc nghiệt.
Nhiều thần tượng tương lai gia nhập các công ty giải trí từ khi còn rất trẻ, đôi khi ngay từ tuổi thiếu niên.
Sau đó họ dành nhiều năm để luyện tập ca hát, nhảy, biểu diễn và nhiều kỹ năng khác.
Không hiếm khi nghe những câu chuyện về các thực tập sinh dành ba, năm, thậm chí bảy năm để chuẩn bị cho việc ra mắt.
Sau nhiều năm,
hệ thống thực tập sinh có thể tạo ra
một nghệ sĩ biểu diễn được đào tạo cực kỳ bài bản.
Nhưng đồng thời, nó cũng có thể thúc đẩy sự đồng nhất.
Một khi một công thức thành công đã được tìm ra,
có công ty nào sẵn sàng mạo hiểm làm điều hoàn toàn khác?
Có lẽ đó là một trong những lý do khiến rất nhiều nhóm cuối cùng lại có cảm giác và hình ảnh khá giống nhau.
5. Thiếu một cơ sở hạ tầng để sống bằng nghề âm nhạc
Khoảng bốn năm trước, tôi từng cực kỳ yêu Thái Lan.
Bây giờ tôi đang ở Việt Nam,
nhưng khi đó Thái Lan đối với tôi gần như hoàn hảo.
Thời tiết nóng,
đồ ăn cũng không hẳn hợp khẩu vị,
và thực ra cũng chẳng có quá nhiều thứ để làm,
nhưng bằng cách nào đó,
nó lại hoàn hảo đối với tôi.
Bởi vì đi đâu trong thành phố,
tôi cũng có thể nghe thấy các ban nhạc đang chơi nhạc.
Cuối cùng, tôi thậm chí còn nhìn thấy những quán mì,
gần giống như Kimbap Cheonguk ở Hàn Quốc,
nơi một ban nhạc sẽ đến và chơi nhạc một lúc.
Và tôi nghĩ:
“À…”
“Có lẽ Thái Lan thực sự thắng Hàn Quốc về khoản ban nhạc.”
Tại sao?
Bởi vì miễn là vẫn có những nơi sẵn sàng trả tiền cho họ để biểu diễn,
họ vẫn có lý do để tiếp tục.
Họ tiếp tục chơi.
Tiếp tục tiến bộ.
Và cuối cùng, nếu việc chơi tốt trở thành điều bình thường,
chúng ta sẽ bắt đầu tìm thấy những ban nhạc thực sự xuất sắc.
Họ không cần phải trở thành giống như những ban nhạc đáng thương ở một đất nước nào đó cách đây khoảng năm tiếng bay,
một đất nước tự hào gọi mình là cường quốc văn hóa thần tượng,
nơi các ban nhạc phải tự bỏ tiền vận hành nhóm
và biểu diễn trên đường phố trong khi lúc nào cũng phải lo lắng liệu mình có được phép biểu diễn ở đó hay không.
Vậy tại sao nước Mỹ lại khác? Vai trò của radio
Tôi nghĩ radio đóng một vai trò lớn hơn nhiều so với những gì mọi người tưởng.
Tất nhiên, đây cũng chỉ là suy nghĩ cá nhân của tôi.
Nước Mỹ rất rộng lớn.
Việc lái xe đường dài là một phần bình thường của cuộc sống hàng ngày.
Ít nhất thì tôi nghe người ta nói vậy.
Tôi chưa từng thực sự đến đó.
Nhưng ngay cả khi lái xe ba hoặc bốn tiếng,
tôi cũng thường tìm radio để nghe.
Radio không thể cho bạn thấy ngoại hình của một người.
Nó chỉ có thể truyền tải âm thanh.
Vì vậy, dù một nhóm có ngoại hình hấp dẫn đến đâu,
cuối cùng họ vẫn phải cạnh tranh bằng chính âm nhạc.
Tôi không nói về biểu diễn live ở đây.
Tôi chỉ nói về bản thân âm nhạc.
Trong hoàn cảnh đó,
các ban nhạc rock, singer-songwriter, ca sĩ country và vô số nghệ sĩ khác vẫn có thể tiếp tục tìm được khán giả riêng.
Một lần nữa, đây chỉ là giả thuyết cá nhân của tôi,
nhưng có lẽ radio đã đóng một vai trò quan trọng trong việc duy trì sự đa dạng của âm nhạc.
Có lẽ nó hoạt động như một loại bộ lọc,
hoặc thậm chí là một chiếc máy xổ số
để tìm ra những nghệ sĩ âm nhạc.
Sự đa dạng của âm nhạc Hàn Quốc thực sự đã biến mất sao?
Có lần tôi từng bày tỏ sự bất mãn này trên mạng.
Một người đã bình luận:
“Chẳng qua là bạn chưa đến Hongdae thôi.
Bạn chưa chịu đi tìm thôi.”
Nói cách khác,
tôi nhớ mình đã trả lời đại loại như:
“Nếu một thứ chỉ tồn tại khi bạn phải chủ động đi tìm nó,
thì chẳng phải cũng có thể nói rằng nó gần như không tồn tại hay sao?”
Gần đây, tôi đã biết đến một số ban nhạc Hàn Quốc thông qua YouTube.
DAY6 và WOODZ chẳng hạn.
Glen Check và Electric Eel thì hình như tôi đã nghe từ khoảng mười năm trước.
Vậy nên,
đúng là họ vẫn tồn tại.
Vấn đề là bạn phải chủ động tìm kiếm những ban nhạc này
vì ngày càng khó để tình cờ phát hiện ra họ.
Tôi vẫn đang chờ đợi âm nhạc Hàn Quốc
Như tôi đã nói,
tôi nghe chanson Pháp.
Tôi khá thường xuyên nghe nhạc pop cũ của Mỹ từ những năm 1960 và 1970.
Tôi nghe J-Pop.
Đã từng có một khoảng thời gian tôi mê nhạc pop Thái Lan.
Ngôn ngữ chưa bao giờ thực sự là vấn đề đối với tôi.
Nếu một bài hát khiến tôi rung động,
tôi sẽ tiếp tục nghe nó.
Sau đó tôi sẽ tìm lời bài hát,
dịch chúng,
và cố gắng hiểu chúng.
Nhưng tôi không thể nhớ lần cuối cùng
mình chủ động đi tìm một bài hát Hàn Quốc mới là khi nào.
Trong khi tiếng Hàn lại là ngôn ngữ mà tôi có thể hiểu và đồng cảm ngay lập tức.
Và tôi chắc chắn rằng mình không phải người duy nhất cảm thấy như vậy.
Cảm giác không còn mong chờ những bài hát mới.
Có lẽ cuối cùng tôi thực sự nên học tiếng Thái thôi.